Rối loạn tiền đình cần điều trị triệt để     Bệnh viện Giao thông vận tải Tp. Hồ Chí Minh ký hợp đồng với Trung tâm quản lý đường cao tốc Hồ Chí Minh - Trung lương    Hội nghị Cục Y Tế Giao thông vận tải năm 2010    Xử trí cấp cứu tai nạn trên đường dẫn vào đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh-Trung lương    Mít tinh chào mừng 27/2/2010, Giao ban y tế cơ sở lần 1 năm 2010   
Liên kết website
Đối tác
Chuyện Trạng Quỳnh 1

CồN TRạNG LộT

Phía trước nhà Quỳnh là một cánh đồng sâu rộng vài chục mẫu. Thuở còn sống ở quê, hàng ngày muốn đi tắt sang làng bên hoặc vào lối xóm, Quỳnh phải vượt một chặng lầy tới mười sãi nước. Mùa mưa, mẹ con người kéo te bên hàng xóm có chiếc thuyền thúng nhỏ, thường chở giúp "ông Cống" qua chỗ lội, không lấy tiền.

Thấm thoát mười năm trôi qua.

Khi đã ra làm quan ở kinh đô và tiếng Trạng đã vang danh khắp nơi, một lần về thăm quê Quỳnh gặp lại bà hàng xóm kéo te. Bà phàn nàn:

- Ông Trạng ơi, tôi hiếm hoi chỉ có một đứa con trai. Cái thằng năm xưa vẫn chở thúng đưa ông qua chỗ lội ấy, nay sắp phải lo vợ cho nó mà một đồng một chữ không có. Tôi chẳng biết vậy mượn ở đâu, ông có cách gì giúp mẹ con tôi với!

Tiếng tăm Trạng lừng lẫy thật, nhưng làm quan thanh liêm như ông, thời buổi ấy nuôi miệng cũng đã khó. Thương người mẹ nghèo hiếm hoi, nhưng biết tìm cách gì để bà ta có tiền cưới vợ cho con bây giờ? Bỗng Quỳnh hỏi bà hàng xóm:

- Này mẹ con nhà bác lâu nay vẫn còn chở thúng đấy chứ?

- Thưa ông Trạng, không chở thì lấy gì mà ăn? Có điều khách ít lắm, ngày chỉ được một, hai chuyến góp vào tiền kéo te bán tép, may ra mới đủ đong gạo!

Quỳnh ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

- Thôi được, bác cứ về bỏ trầu xin cưới cho cháu đi. Tôi bấm độn đoán biết thế nào quãng đầu tháng sau mẹ con bác cũng kiếm được khoản tiền kha khá!

Bà hàng xóm buồn bã nghĩ ông Trạng nói cho vui câu chuyện.

Giữa cánh đồng nước sâu nổi lên một cồn đất cao. Mấy hôm nay người ta thấy trên cồn đất hiện lên một cái chòi lợp lá gồi hình tứ giác, nóc phất phới ngọn cờ xanh đuôi nheo. Chẳng rõ nguyên cớ từ đâu, người ta kháo nhau: Trạng Quỳnh ở kinh về thăm quê dựng lều thơ trên gò giữa đồng nước để xướng, họa liền trong ba ngày. Người nọ truyền người kia, nhưng kẻ khá giả trong làng, trong xã rủ nhau đi xem.

Những người đến đầu tiên thất vọng ngay. Họ ghé mắt nhìn vào trong chẳng thấy lầu thơ đâu cả, chỉ thấy một đống thù lù như hình người trùm chăn kín mít. Phía vách bên trên dán tờ giấy điều có hàng chữ: "Trạng đang lột ... cha đứa nào nói với đứa nào!".

Tự nhiên tốn tiền đò, mất công toi, bao nhiêu người bực mình ngán ngẩm. Toán người này về, vua đặt chân lên cũng ngại câu chửi, chẳng ai buồn nói với ai, đã thấy toán khác, rồi toán khác nữa, lũ lượt kéo tới, tò mò ra.

Người đi hỏi:

- Ơở ngoài ấy có gì hay không?

Người về đáp:

- Trạng lột ... cha đứa nào nói với đứa nào!

Kỳ lạ thật! Trạng lột ... lại cấm không ai được nói với ai. Thế thì chắc phải có cái gì bí mật lạ lùng lắm!

Thế là một đồn mười, mười đồn trăm ... Buổi đầu, đồn xướng họa thơ, chỉ thu hút đám người hâm mộ chữ nghĩa. Nhưng buổi sau thêm tiếng đồn Trạng lột ... thôi thì bất kể trẻ già, trai gái ai cũng muốn tận mắt được xem. Mẹ con người hàng xóm đông khách quá, mẹ một thúng, com một thúng, thu tiền đò đếm mỏi tay không xuể...

Mấy hôm sau, Quỳnh đến bảo với người mẹ:

- Bây giờ chắc bác thừa tiền cưới dâu rồi. Hãy bảo con trai bác đi dỡ cái "lều thơ" mang lá gồi và tre nứa về, nối thêm bếp mà làm cỗ!

Bấy giờ hai mẹ con và dân làng mới rõ mẹo của ông Trạng cứu người nghèo. Để tỏ lòng kính trọng, người ta gọi luôn cái cồn kia là cồn Trạng lột. Hiện nay vẫn còn di tích ở giữa cánh đồng sâu xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa.

 

 


THĂM CHúA NGỦ NGàY

 

Một hôm, vừa nghĩ xong bài thơ ấy, Quỳnh vào nội phủ định đọc cho chúa nghe chơi.

Khi chúa gọi vào hỏi, Quỳnh nói như thật:

- Khải chúa, nhà thần chật chội, những trưa nóng bức thần phải bỏ nhà lên núi nằm hóng mát. Ngọa sơn nghĩa là nằm ở trên núi. Có thế thôi mà. Quen thói buồn tay, thần nghĩ sao viết vậy, chẳng có nghĩa gì đáng để chúa phải bận tâm!

Rồi Quỳnh lái sang chuyện khác đọc thơ, bình văn chúa quên ngay.

Iít lâu sau, chúa và bà chính cung ra ngoài thành du ngoạn cảnh đồng án. Những người nông phu, từ xa, trông thấy kiệu hoa nội phủ, đã reo lên "Ngọa sơn!", "Ngọa sơn!".

Bà chính cung không hiểu dân chúng muốn gì, quay sang hỏi chúa. Chúa truyền bắt một người trong đám họ đến tra hỏi nguyên cứ. Người ấy run lẩy bẩy vẫn xin:

- Chúng con là kẻ hèn mọn, dốt nát dám đâu nói chữ. Việc này chẳng qua chỉ tại Trạng Quỳnh!

- Trạng Quỳnh bảo các ngươi như thế nào? ố Bà chính cung ngọt ngào dỗ dành ố cứ tâu bày thật, ta sẽ xin chúa tha tội cho!

- Muôn tâu đức bà, được như lời đức bà hứa, chúng con không dám dấu diếm. Dạ, muôn tâu ... Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ, về mách với chúng con là chúa đang bận "ngọa sơn" và giảng rằng: Nằm lâu phải ngủ. Ngủ thì phải ngáy ố Sơn là núi. Núi nào chẳng có đèo? Ghép hai chữ cuối, đọc gọn là c. Dạ, muôn tâu ... "ngáy đèo" nói lái nghĩa là tục ... Chúng con vô cùng sợ hãi, xin đức bà mở lượng trời bể.

Hiểu rõ đầu têu câu chuyện này là Trạng Quỳnh, bà chính cung nghĩ bụng, càng hỏi chuyện ra chỉ càng thêm xấu mặt. Đành giục chúa lên kiệu phóc về cho nhanh.

 

 

Đá BèO CHƠI

Trong phủ chúa có một bà quận, tính hay làm duyên lại thích tò mò. Đi đâu, ở đâu bà cũng muốn mọi người phải chú ý đến mình. Thấy gì, nghe gì, bà cũng muốn rõ tận ngọn ngành. Một trưa hè, biết quận chúa sắp sang nhà mình, Quỳnh ra bờ ao, bước xuống bậc đá xâm xấp mặt ao bèo một chân đứng ngâm ướt, chân kia té nước; té đi té lại đu đưa ...

Bà quận đến chơi, trông thấy lạ mắt, không nín được:

- Trạng làm gì thế?

Quỳnh vờ mãi chăm chú, không hay biết.

Bà quận cất tiếng to hơn:

- Ông đang làm gì đấy hả ông Trạng?

Quỳnh vẫn chăm chú té nước, miệng đáp:

- Vâng, chào bà. Tôi chẳng có việc gì thì ra đứng bờ ao.

Bà quận lại nói:

- Không việc gì, sao cái chân ông cứ phải đá đi đá lại thế kia?

Bấy giờ Trạng mới ngẩng mặt lên, chặc lưỡi:

- Chà, nắng cực lắm, bà quận ơi, không chịu nổi nên tôi phải ra đấy đá bèo chơi.

Người nghe mặt đỏ dừ.

Thẹn chết đi được còn dám căn vặn thêm điều gì nữa.

Sứ TàU KHIếP VíA

 

Vua quan "Thiên triều" vốn quen thói kiêu ngạo. Năm ấy, được tin sứ nhà Thanh khét tiếng hống hách sắp sang nước ta, vua Lê chúa Trịnh tỏ ý lo ngại. Tin vào tài ứng đối của Quỳnh, triều thần giao cho Trạng giữ việc tiếp sứ. Trạng cho dựng một ngôi quán nhỏ bên bờ sông cái, xin vua triệu bà Điểm ra đó ngồi bán hàng. Còn mình tự quản một chiếc đò, nhận đón chở sứ bộ qua sông.

Mấy tên trong sứ bộ Tàu vừa đến nước ta, qua ngôi quán bà Điểm, nhác trông thấy cô hàng nước xinh tươi óng ả, liền thả lời bỡn cợt. Một tên líu lo đọc bâng quơ: "Nam bang nhất thốn thố bất tri kỷ, nhân canh!" (nghĩa là: Một tấc đất nước Nam không biết bao nhiêu người cày). Yý nói mỉa bà hàng nước lẵng lơ.

Bà Điểm đang nhai trầu, nhổ toẹt một bãi nước cốt xuống đất, nói trống không: "Bắc triều chủ đại phu giai đo thử đồ xuất" (nghĩa là: Bọn quan to, ông lớn ở nước phương Bắc đều từ chỗ ấy mà chui ra cả).

Câu đối lọt vào tai bọn sứ bộ, chúng giật mình, câm họng. Dè đâu chị hàng bán nước mà tài học siêu việt đến thế.

Đến lúc xuống đò, Quỳnh đã mặc giả làm chú lái, cầm sào đợi sẵn ... Đò ra giữa sông, một tên trong đoàn sứ bộ Tàu hổng ruột, lỡ xổng ra một tiếng "bùm". Hắn đã không biết sượng mặt, còn đọc một câu chữa thẹn lếu láo :"Lôi động Nam bang" (Sấm động nước Nam).

Trạng Quỳnh đang cầm chèo. Liền đứng vạch quần đái vòng cầu câu xuống nước mà nói: "Vũ quá Bắc hải" (mưa qua bể Bắc).

Từ đó, cả bọn Ngô ngông bấm nhau ngồi im thin thít. Khiếp vía là phải. Mới gặp chị hàng nước, anh lái đò, "Thiên triều" đã lúng túng đến không biết đối phó thế nào.

?N RồI KHó NóI

 

Sứ bộ Tàu liên tiếp bị thua mưu trí Trạng Quỳnh, triều thần và dân khắp nơi đều mở lòng, mát mật. Riêng chúa Trịnh hèn đốn, sợ tổn sức đến Thiên triều, gọi Quỳnh vào nội phủ quở mắng:

- Nhà ngươi tài giỏi vặt vảnh chẳng qua chỉ đuổi được một con trâu ra khỏi vạch vôi, đập vỡ một cái lọ thủy tinh. Liệu đến lúc thiên binh phương Bắc kéo sang, ngươi có đứng ra chống đỡ nổi hay không?

- Khải chúa, người nói điều chi lạ? Một mình tôi không trị nổi thiên binh vạn mã, song cả nước này từ trên xuống dưới một lòng thì sợ gì không đè bẹp được giặc. Nhà chúa hãy trông lại các đời Đinh, Lê, Lý, Trần ... vua tôi nước Việt đã ai chịu quỳ gối khuất phục chúng bao giờ chưa?

Chúa Trịnh tím mặt, cắn răng không nói được câu nào nữa. Iít lâu sau, nhân viện cớ đòi Trạng vào chầu, Trạng không chấp lệnh, chúa sai một toán kiêu binh đến kéo đổ nhà Trạng. Bọn này mang thừng , chão đến buộc vào cột, kèo, nóc, mái. Sắp ra tay thì Quỳnh dọa:

- Chúa sai bọn bay kéo đổ nhà. Được rồi. cứ kéo đi, nhưng cấm há miệng hò dô. Đứa nào không làm đúng như vậy, ta cho gia nhân vặn răng, rút lưỡi!

Không đồng thanh hiệp sức "dô ta" làm sao đủ lực giật đổ nhà. Lính của chúa đành quấn thừng, chão, lủi thủi ra về.

Chưa trả thù được Trạng, chúa chưa hả giận. Lần khác, chúa lại truyền lính nội phủ: "Cứ đến ỉa ra nhà Trạng, cho thối hoắc lên, Trạng ắt phải bỏ đi nơi khác". Bọn lính kéo đến sắp giở trò, lại bị Quỳnh nạt:

- Được rồi, chúa sai bọn bay đến ta, cứ việc. Nhưng chúa không sai đái thì cấm đái. Đứa nào đái ra đất nhà tao, tao sẽ cho gia nhân cắt dái đó!

Làm sao người ta có thể "đại tiện" mà giữ cho khỏi "tiểu tiện". Thế là đám lâu là nhà chúa đành co vòi, cắp đít ra về. Nhưng cũng có một vài tên ranh mãnh đã đeo gáo dừa vào hạ bộ, ngồi rốn "bậy" ra nhà Trạng được ít bãi. Trạng căm lắm, nghĩ bụng: "Nhà chúa đã đối xử cạn tình với ta, cho ta ngửi ... thì rồi sẽ có ngày ta đãi chúa ăn ..."

Đợi một ngày giữa vụ rau, Trạng ra chợ chọn mua một cây cải thật lớn. Trạng khệ nệ vác cây cải vào dâng chúa. Tưởng Trạng đã xí xóa chuyện cũ, muốn đến cầu thân, chúa nhận của biếu. Gặp hôm Trạng vào chầu, thuận miệng chúa hỏi:

- Bữa nọ Trạng kiếm đâu được giống cải quý mà ta ăn ngon miệng đến thế?

Bất đồ, Trạng vỗ mặt, tâu luôn:

- Thế nhà chúa quên rồi ư? Nhờ hơi của lính nội phủ mà nhà Trạng mọc được cây cải tốt như vậy để đem hiến chúa. Nay chúa ăn thấy ngon, tôi mới thực vui lòng!

Chúa trót ăn rồi, lại khen ngon, biết làm sao. Thật là: "Dễ ăn, khó nói!".

 


THế Có GHÊ KHÔNG

Có hai anh nói khoác. Một anh nói:

- Đời tớ gặp rất nhiều chuyện nguy hiểm! Một lần tớ vào rừng gặp một con hổ dữ, tay không đánh nhau với nó hàng nửa ngày. Nhưng rồi cuối cùng tớ bị con hổ xé ra từng mảnh nhỏ. Thế có ghê không?

Anh kia nói:

- Chưa ghê bằng tớ! Một lần tớ gặp một con trăn. Nó đớp được hai chân tớ nuốt gần hết, tớ giang hẳn hai cánh tay ra ngáng lại. Nhưng đến phút cuối cùng, vừa đau vừa mỏi, tớ đành buông xuôi hai tay cho nó nuốt tuột vào bụng rồi gọi người làng ra cứu!

 

TAM ĐạI GàN

Nhà nọ có ba ông cháu. Một hôm, ông sai cháu ra chợ mua một đồng mắm và một đồng tương. Thằng bé mang hai cái bát ra chợ mua, nhưng đi một lúc, sực nhớ ra, quay lại hỏi ông:

- Ông ơi, đồng nào mua mắm, đồng nào mua tương?

Ông bảo:

- Đồng nào cũng được!

Thằng bé lại chạy đi, một lát lâu, lại mang hai cái bát không về, hỏi:

- Ban nãy cháu quên chưa hỏi ông bát nào đựng mắm, bát nào đựng tương?

Ông tức quá đánh cho nó mấy roi. Vừa lúc đó, bố thằng bé đi đâu về, thấy thế nổi giận nói:

- Aà! Ông đánh con tôi phải không? Thế thì sợ gì mà tôi không đánh con ông!

Nói rồi tự đánh vào mình một hồi nên thân.

Người ông cũng phát khùng lên, bảo:

- Aà! Mày đánh con ông thì .. thì ... ông treo cổ cha mày lên!

Rồi ông ta vội vàng đi tìm thừng để treo cổ.

 

 

Có NUÔI ĐƯợC KHÔNG

Một anh, vợ có thai mới được bảy tháng đã đẻ ra đứa con trai. Anh ta sợ nuôi không được, gặp ai cũng hỏi.

Một hôm, gặp người bạn, anh hỏi, bạn an ủi:

- Không can gì mà ngại. Bà tôi sinh ra bố tôi cũng đẻ non trước hai tháng đấy!

Anh kia giật mình hỏi lại:

- Thế à! Rồi có nuôi được không?

 

KHEN Đồ Cổ

Một anh chàng thật thà có ông bố vợ rất thích chơi đồ cổ. Chị vợ thường dặn chồng:

- Thầy thích chơi đồ cổ lắm, anh có sang bên ấy, hễ thấy cái gì cũng cứ khen là cổ cho thầy vừa lòng!

Một hôm, anh sang chơi, thấy ông bố vợ mang bộ đồ trà ra, anh ta vội khen:

- Aái chà! Nhà có bộ chén cổ thật!

Ông bố vợ khoái lắm. Anh chàng lại khen vung lên:

- Cái ấm cũng cổ, cái khay cũng cổ tốt!

Ông bố vợ càng khoái.

Vừa lúc ấy, mẹ vợ đi ra, bụng vừa vượt mặt. Thấy vậy, anh chàng vội khen:

- Aái chà! Cái bụng của mẹ mới thật là cổ!

CHẳNG PHảI TAY ÔNG

Có hai anh tính sợ vợ, lại cùng là láng giềng với nhau. Một hôm, anh nọ đi vắng, ở nhà trời mưa, cái váy vợ phơi ngoài sân, anh quên mất, để mưa ướt cả. Khi về, vợ mắng té tát cho một trận.

Anh bên cạnh thấy thế mới lẩm bẩm:

- Mẹ kiếp, chẳng phải tay ông!

Chẳng may, vợ anh ta nghe thấy, chạy đến, trợn mắt hỏi dồn:

- Phải tay ông thì ông làm gì hử ...? Ông làm cái gì hử ...?

Anh này luống cuống:

- Phải tay ông ... thì ông .... cất trước lúc trời chưa mưa, chứ còn làm gì nữa!


ĂN Cỗ VớI AI

Một ông đi ăn cỗ ở làng bên, cứ gục đầu gắp, không để ý đến ai.

Khi anh về, chị vợ hỏi:

- Hôm nay anh ngồi ăn cỗ với ai?

Anh ta thản nhiên đáp:

- Chả biết nữa! Khi tôi ngẩng đầu lên thì không còn ai cả!

 

 

CHả CON NàO NHỏ Cả

 

Một anh tuy đã có vợ và có con ba bốn tuổi, nhưng tính vẫn tham ăn. Một hôm, anh ta ra đồng kiếm được mấy con cá đem về đốt lửa ngồi nướng.

Giữa lúc ấy, thằng con anh ta đói đang khóc quấy mẹ. Nhân thấy chồng nướng cá, mẹ nó dỗ:

- Uúi chà! Con cá vàng không? Nín đi rồi bố cho!

Thằng bé nín ngay, nhưng anh chồng lại gắt:

- Vàng gì? Có phải nghệ đâu mà vàng?

Thằng bé lại khóc, mẹ nó dỗ:

- Nín di, kìa trông nó béo quá kìa! Nín đi rồi bố cho!

Thằng bé lại nín. Anh ta cau mặt:

- Cá đấy, chứ có phải thịt đầu mà béo mấy chả béo!

Thằng bé giãy nãy lên khóc. Mẹ nó dỗ mãi không nín đành phải chỉ vào gắp cá, nói:

- Nín đi rồi bố xem con nào nhỏ, bố cho một con!

Nhưng anh chồng quát:

- Ba con bằng nhau, chả có con nào nhỏ cả!

 

 

THế Có ĐEN KHÔNG

Có một ông lão nghiện rượu chỉ thích uống thứ rượu nấu lậu. Một hôm, về chơi nhà ông thông gia ở quê định kiếm bữa rượu. Chẳng may đến chơi thì ông thông gia đi vắng. Bà vợ thết một bữa rất thịnh soạn nhưng sợ không dám đem rượu lậu ra mời. Ông lão nghiện rượu đêm nằm tấm tức mãi không ngủ được. bà kia ngủ ở buồng giáp vách, đêm dậy đi tiểu vào cái nồi. Nhà có khách sợ tương ra tồ tồ e bất lịch sự, bà cứ phải nín hơi, thóp bụng lại cho ra "ri, ri" mà thôi. Ông lão nằm nghe nước chảy vào nồi giọt một "tong, tong" tưởng trong nhà đang cất rượu, mới lẩm bẩm một mình:

- Ưừ, có thế chứ! Rượu đang cất, chắc ngày mai thế nào cũng được nếm!

Bà kia buồn cười quá không giữ được, tóe ra "tồ, tồ" một tràng. Ông lão tưởng hủ rượu vỡ, đập tay xuống giường rồi ca cẩm:

- Thôi xong! Hoài của! Hũ rượu vỡ mất rồi, thế có đen không!

TRứNG NGóT

 

Một chị mới về làm dâu. Hôm ấy, mẹ chồng bảo chị đi luộc rau muống. Chị ta đổ lưng rỗ rau vào nồi luộc, nhưng đến khi vớt ra chỉ còn được một đĩa. Chị ta lo mẹ chồng ngờ chị ăn vụng, ngồi ôm mặt khóc hu hu. Thấy chị ta khóc, mẹ chồng hỏi:

- Tại sao con khóc?

Chị ta liền kể lại sự tình. Mẹ chồng nói:

- Tưởng gì chứ thế thì việc gì mà khóc. Luộc bao giờ chả ngót đi như thế!

Một lần khác, mẹ chồng lại sai chị ta luộc năm quả trứng. Luộc chín, chị ta ăn hai quả. Mẹ chồng thấy còn có ba quả, liền hỏi:

- Sao luộc năm quả mà chỉ còn lại ba?

Chị ta trả lời gọn lỏn:

- Nó ngót đi đấy mẹ ạ!

 

 

CON Cò BIếT NóI

Xiển bắt được một con cò đem về nuôi. Thằng con lão nhà giàu trong làng trông thấy thích lắm, đòi bố mua cho được. Lão cũng chiều ý con, Xiển đòi năm quan. Lão mắng:

- Tao nghe nói mày thông minh, sao một con cò con thế này mày đòi những năm quan?

Xiển trả lời:

- Cò tôi quý lắm, nó biết nói!

Lão không tin, Xiển cam đoan rằng thật. lão bảo:

- Mày hỏi nó, nó nói được thì tao trả năm quan, bằng không thì tao bắt lấy cò!

Xiển lấy tiền rồi ghé sát vào tai cò, hỏi:

- Cò ơi! Mi có biết nói không?

Và bóp cổ cò một cái thực mạnh. Cò đau quá, kêu "có" một tiếng. Xiển reo lên:

- Đó thấy không?

Thế là lão nhà giàu chịu mất năm quan tiền lấy một con cò ốm.

 

 

Mẹ TRòN CON VUÔNG

Về già, Xiển làm thuốc và dạy học. Ông chữa thuốc giỏi, từ quan cho chí vua đều phải phục tài. Quan phủ Thọ Xuân có bà vợ và đứa con ốm thập tử nhất sinh, sai lính đến nhà lấy thuốc. Ông gói một hai gói bảo đem về. Quan hỏi anh lính gói nào của mẹ gói nào của cậu ấm. Anh lính bẩm không biết. Quan nhìn bên ngoài gói thuốc xem có đề chữ gì không thì chỉ thấy một gói vẽ một cái vòng tròn, một gói vẽ một cái hình vuông. Quan đoán mãi không ra, lập tức bắt đi mời kỳ được thầy lang Xiển đến.

Khi đến nhà quan phủ, Xiển cầm lấy hai gói thuốc, giả vờ nổi giận mắng anh lính: "Đồ ngủ như lợn, có thế mà cũng không biết, mẹ "tròn", con "vuông" chứ còn gì nữa!

Và QUAN HUYệN

Có một viên quan huyện hay nịnh hót quan trên để chóng được thăng quan tiến chức. Một trong những viên quan hắn thường bợ đỡ là án sát Nguyễn Văn Tiêu, tục gọi là Aán Tiêu. Để nịnh quan thầy, hắn ra lệnh cho dân hàng huyện không ai được nói tới tiếng "tiêu", ví dụ hạt tiêu phải nói là hạt ớt v.v... Hễ ai thấy người nào trái lệnh thì được phép vả vào miệng ba cái thật đau, rồi đem trình quan trị tội. Lệnh ban ra khiến Xiển ghét quan huyện lại càng ghét thêm. Ông mang một ít quần áo rách mướp xin vào hầu quan.

Quan hỏi có việc gì, Xiển thưa là nhà nghèo quá, gia tài chỉ còn ít quần áo rách, nhờ quan cầm hộ cho lấy tiền về làm vốn sinh nhai. Tức thì quan nổi trận lôi đình thét mắng đùng đùng, vì xưa nay có ai cả gan dám đem quần áo rách đến bán cho quan bao giờ? Đợi quan nguôi giận, Xiển mới nói:

- Dạ thưa ngài, xin ngài thương kẻ học trò nghèo túng này, không gì cũng mang danh người quân tử.

- Quân tử gì mày! Đồ quân tử cùng quân tử cố!

Xiển trần tình:

- Dạ, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm ạ!

Nghe câu nói khó hiểu, quan chau mày suy nghĩ một lúc mới biết lời mắng của mình và lời trần tình của Xiển đã làm thành một đôi câu đối hay tuyệt. Quan phục tài Xiển, thưởng cho một quan tiền nhưng lại chọn cái thú tiền chôn dưới đất lâu ngày bị hắn rỉ hết cả. Xiển đỡ lấy quan tiền cầm một đồng dằn mạnh xuống đất, tiếng kêu nghe cành cạch, rồi nói:

- Bẩm quan, tiền này không "ớt" được ạ!

Quan vô tình mắng:

- Mày điên à! Tiền này mà không tiêu được ư?

Chỉ chờ có thế, Xiển liền vả cho quan ba cái tát vào giữa mặt như trời giáng. Quan hô lính bắt trói, xiển ngăn lại nói:

- Chắc ngài vẫn chưa quên cái lệnh kiêng tiếng húy quan án ngài mới ban ra. Tôi làm như vậy cũng là thi hành cái lệnh của ngài thôi!

Quan sợ bọn lính bit chuyện thì minh thêm xấu hổ, liền đuổi Xiển về.

 

 

Tứ CHứNG NAN Y

 

Xiển làm thuốc giỏi, cho nên vua thường vời vào kinh chữa bệnh. Một hôm, vua nô đùa cùng bầy cung phi, thì thấy Xiển bước vào. Vua ngạc nhiên hỏi có việc gì. Xiển đáp:

- Hạ thần nghe nói hoàng thượng mắc phải bốn bệnh hiểm nghèo mà sách gọi là "tứ chứng nan y" nên vội vàng vào thăm hoàng thượng!

Vua khó chịu nói:

- Thiên hạ ác miệng mà nói càn như vậy, chứ lâu nay Trẫm vẫn thấy trong người khỏe mạnh, có việc gì đâu! Aà, thế "tứ chứng nan y" là những bệnh gì?

Xiển nói:

- Hạ thần nghe thiên hạ đồn như vậy. Bây giờ mới biết là sai, nhưng nghĩ cho kỹ, thì lại thấy có nguyên do đấy ạ!

Vua hỏi:

- Nguyên do thế nào?

Xiển giả bộ rụt rè:

- Xin hoàng thượng tha tội kẻ hạ thần mới dám nói!

Vua bằng lòng. Xiển nói:

- Thiên hạ thấy hoàng thượng suốt năm chỉ quanh quẩn trong cung điện nên họ lầm tưởng là ngài què. Nước sắp mất mà hoàng thượng vẫn ung dung vui thú, nên họ lầm tưởng ngài mù. Trước cảnh núi sông bị quân giặc dày xéo mà hoàng thượng cứ ngồi im, nên họ lầm tưởng ngài câm. Khắp nơi người ta đều kêu hoàng thượng là kẻ hèn yếu, khiếp nhược nhưng ngài vẫn làm ngơ ký hòa ước hàng giặc, nên họ lầm tưởng là ngài điếc!

Vua biết Xiển chửi mình, tức uất người, nhưng không đủ lý lẽ để bắt tội được.

 

 

 

 

ĐẦU TO BẰNG CÁI BỒ

Chuyện kể rằng lúc Quỳnh còn nhỏ, mới bảy tám tuổi, Quỳnh đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ nhưng cũng là một đứa trẻ chúa nghịch. Hồi ấy bọn trẻ thường chơi trò xước xách, lấy tàu chuối làm cờ, lá sen làm lọng. Trong trò chơi, Quỳnh bao giờ cũng lấn lướt.

Một đêm mùa thu, trăng tháng tám sáng vằng vặc, đang chơi với đám trẻ ở sân nhà, Quỳnh bảo:

- Chúng bay làm kiệu cho tao ngồi, rồi tao đưa đi xem một người mà cái đầu to bằng cái bồ!

Lũ trẻ tưởng thật, liền tranh nhau làm kiệu rước Quỳnh đi vòng vòng quanh sân, mệt thở muốn đứt hơi. Xong, chúng nhất định bắt Quỳnh phải giữ lời hứa. Lúc ấy trăng đã mờ, Quỳnh bảo:

- Tụi bây đứng đợi cả ở đây, tôi đi đốt lửa soi cho mà xem!

Bọn trẻ nhỏ hơi sợ, không dám ở lại, chỉ những đứa lớn hơn, bạo dạn đứng chờ. Quỳnh lấy lửa thắp đèn xong đâu đấy, rồi thò đầu che ngọn đèn, bảo:

- Kìa, trông trên vách kìa. Ông to đầu đã ra đấy!

Anh nào cũng nhìn nhớn nhơ nhớn nhác, thấy bóng đầu Quỳnh ở vách to bằng cái bồ thật. Lũ trẻ biết Quỳnh xỏ, quay ra bắt Quỳnh làm kiệu đền, Quỳnh chạy vào buồng đóng cửa lại, kêu ầm lên. Ông bố tưởng là trẻ đánh, cầm roi chạy ra, lũ trẻ chạy tán loạn.


ĐẤT NỨT CON BỘ HUNG


Từ thuở bé, ngoài tính nghịch ngợm, hiếu động, Quỳnh còn tỏ ra thông minh xuất chúng khi học rất giỏi và đối đáp hay, nhất là khi ứng khẩu.

Trong làng cậu bé Quỳnh có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Quỳnh đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Quỳnh đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì Quỳnh, ông ta ra vẻ kẻ cả gọi Quỳnh đến bảo:

- Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!

Nói xong, không đợi Quỳnh thưa lại, Tú Cát liền gật gù đọc:

- "Lợn cấn ăn cám tốn."

Đây là một câu đối rất hắc búa bởi "Cấn" và "Cám" vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó. Thế nhưng, không nao núng, Quỳnh đọc lại ngay:

- "Chó khônss chớ cắn càn."

Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. "Khôn" và "Càn" cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo:

- Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!

Nói xong Tú Cát đọc ngay:

- "Trời sinh ông Tú Cát!"

Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối. Nào ngờ, Quỳnh chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp:

- "Đất nứt con bọ hung!"

Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đành cút thẳng.

 

 

CHUYỆN DÊ ĐỰC CHỬA

Tiếng tăm về một thần đồng nhanh chóng được truyền tụng khắp nơi, ngày càng lan rộng và đến tận kinh đô. Nhà vua muốn biết hư thực ra sao, nhưng là người chuộng nhân tài, sau khi suy nghĩ, vua bèn ban lệnh: Cả phủ Thanh Hóa, mỗi làng phải đem nộp một con dê đực đang chửa. Sau hai tháng, nếu làng nào không có sẽ bị trị tội. Cái lệnh chéo ngoe ấy tất nhiên làm dân chúng phủ Thanh Hóa shốt hoảng sợ hãi. Cả làng Quỳnh ở, ai cũng nhớn nhác lo âu. Tìm đâu ra dê đực chửa? Mà từ xưa đến giờ đã nghe ai nói cái chuyện lạ lùng ấy đâu! Thế nhưng, khi biết chuyện đó, Quỳnh nói với bố:

- Chuyện gì chớ chuyện này xin bố đừng lo. Bố cứ bảo dân làng chuẩn bị cho con một trăm quan tiền và gạo ăn đường, con sẽ kiếm được dê đực chửa cho làng. Nghe Quỳnh nói vậy, ông bố không tin, nhưng cũng thưa lại vơi dân làng. Người tin kẻ nghi nhưng không còn có cách nào khác, mọi người đành làm theo yêu cầu của Quỳnh. Sáng hôm sau, hai cha con Quỳnh lên đường. Họ đến kinh đô khi nhà vua có việc đi qua cửa Đông. Quỳnh nép xuống cống sát vệ đường chờ. Khi xa giá nhà vua đến gần, Quỳnh khóc rống lên. Nghe tiếng khóc có vẻ lạ, vua sai lính lôi đứa trẻ đang khóc lên hỏi nguyên do. Quỳnh vờ như không biết đấy là vua, càng gào to, kể lể:

- Mẹ tôi đã chết mấy năm nay, tôi nói mãi mà bố tôi không chịu đẻ em bé cho tôi bế...

Vua nghe nói câu ấy, bật cười bảo rằng:

- Ôi chao quả là một thằng bé đần độn. Ba mày là đàn ông mà đẻ làm sao được?

Chỉ đợi cho vua nói vậy, Quỳnh liền nín ngay, rồi đứng chắp hai tay lại, nói thật trang nghiêm:

- Thưa ông, vậy mà nhà vua bắt dân làng tôi phải nộp dê đực chửa!

Nghe nói vậy, nhà vua giật mình, biết ngay đây là đứa bé thần đồng mà bấy lâu mình vẫn nghe đồn.

Miệng Kẻ Sang

Bấy giờ Quỳnh đã hơi lớn, đang độ thiếu niên. Trên đường từ phủ về khát quá, Quỳnh vào một quán nước bên đường. Trong quán có một viên quan, dáng oai vệ, đang ngồi nhai trầu bỏm bẻm. Cạnh đó, có một lính vệ đứng hầu. Quan nhai xong, hách dịch vứt miếng bã trầu ra đất.

Quỳnh đang ngồi uống nước, thấy ngứa mắt liền bước lại cuối nhặt lên, ngắm nghía như muốn tìm kiếm cái gì, rồi đút vào túi.

Quan thấy lạ, hỏi:

- Mày là ai? Làm gì vậy?

Quỳnh l&

Tin nổi bật
Hoạt động đoàn thể
Khung cảnh làm việc
Chỉ đạo tuyến
Liên kết & Quảng cáo
Trang chủ l Danh sách các đơn vị l Sơ đồ đường đi l Liên hệ l Góp ý
CỤC Y TẾ GIAO THÔNG VẬN TẢI
BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
Địa chỉ: 72/3 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp.HCM
Điện thoại: (84-8) 3820 1550 - 3820 7180
Visit:    20026   Copyright © 2009 Bệnh viện Giao Thông Vận Tải TP. HCM. Thiết kế bởi công ty TNHH CNTT Sáng tạo Việt.