THế Có GHÊ KHÔNG
Có hai anh nói khoác. Một anh nói:
- Đời tớ gặp rất nhiều chuyện nguy hiểm! Một lần tớ vào rừng gặp một con hổ dữ, tay không đánh nhau với nó hàng nửa ngày. Nhưng rồi cuối cùng tớ bị con hổ xé ra từng mảnh nhỏ. Thế có ghê không?
Anh kia nói:
- Chưa ghê bằng tớ! Một lần tớ gặp một con trăn. Nó đớp được hai chân tớ nuốt gần hết, tớ giang hẳn hai cánh tay ra ngáng lại. Nhưng đến phút cuối cùng, vừa đau vừa mỏi, tớ đành buông xuôi hai tay cho nó nuốt tuột vào bụng rồi gọi người làng ra cứu!
TAM ĐạI GàN
Nhà nọ có ba ông cháu. Một hôm, ông sai cháu ra chợ mua một đồng mắm và một đồng tương. Thằng bé mang hai cái bát ra chợ mua, nhưng đi một lúc, sực nhớ ra, quay lại hỏi ông:
- Ông ơi, đồng nào mua mắm, đồng nào mua tương?
Ông bảo:
- Đồng nào cũng được!
Thằng bé lại chạy đi, một lát lâu, lại mang hai cái bát không về, hỏi:
- Ban nãy cháu quên chưa hỏi ông bát nào đựng mắm, bát nào đựng tương?
Ông tức quá đánh cho nó mấy roi. Vừa lúc đó, bố thằng bé đi đâu về, thấy thế nổi giận nói:
- Aà! Ông đánh con tôi phải không? Thế thì sợ gì mà tôi không đánh con ông!
Nói rồi tự đánh vào mình một hồi nên thân.
Người ông cũng phát khùng lên, bảo:
- Aà! Mày đánh con ông thì .. thì ... ông treo cổ cha mày lên!
Rồi ông ta vội vàng đi tìm thừng để treo cổ.
Có NUÔI ĐƯợC KHÔNG
Một anh, vợ có thai mới được bảy tháng đã đẻ ra đứa con trai. Anh ta sợ nuôi không được, gặp ai cũng hỏi.
Một hôm, gặp người bạn, anh hỏi, bạn an ủi:
- Không can gì mà ngại. Bà tôi sinh ra bố tôi cũng đẻ non trước hai tháng đấy!
Anh kia giật mình hỏi lại:
- Thế à! Rồi có nuôi được không?
KHEN Đồ Cổ
Một anh chàng thật thà có ông bố vợ rất thích chơi đồ cổ. Chị vợ thường dặn chồng:
- Thầy thích chơi đồ cổ lắm, anh có sang bên ấy, hễ thấy cái gì cũng cứ khen là cổ cho thầy vừa lòng!
Một hôm, anh sang chơi, thấy ông bố vợ mang bộ đồ trà ra, anh ta vội khen:
- Aái chà! Nhà có bộ chén cổ thật!
Ông bố vợ khoái lắm. Anh chàng lại khen vung lên:
- Cái ấm cũng cổ, cái khay cũng cổ tốt!
Ông bố vợ càng khoái.
Vừa lúc ấy, mẹ vợ đi ra, bụng vừa vượt mặt. Thấy vậy, anh chàng vội khen:
- Aái chà! Cái bụng của mẹ mới thật là cổ!
CHẳNG PHảI TAY ÔNG
Có hai anh tính sợ vợ, lại cùng là láng giềng với nhau. Một hôm, anh nọ đi vắng, ở nhà trời mưa, cái váy vợ phơi ngoài sân, anh quên mất, để mưa ướt cả. Khi về, vợ mắng té tát cho một trận.
Anh bên cạnh thấy thế mới lẩm bẩm:
- Mẹ kiếp, chẳng phải tay ông!
Chẳng may, vợ anh ta nghe thấy, chạy đến, trợn mắt hỏi dồn:
- Phải tay ông thì ông làm gì hử ...? Ông làm cái gì hử ...?
Anh này luống cuống:
- Phải tay ông ... thì ông .... cất trước lúc trời chưa mưa, chứ còn làm gì nữa!
ĂN Cỗ VớI AI
Một ông đi ăn cỗ ở làng bên, cứ gục đầu gắp, không để ý đến ai.
Khi anh về, chị vợ hỏi:
- Hôm nay anh ngồi ăn cỗ với ai?
Anh ta thản nhiên đáp:
- Chả biết nữa! Khi tôi ngẩng đầu lên thì không còn ai cả!
CHả CON NàO NHỏ Cả
Một anh tuy đã có vợ và có con ba bốn tuổi, nhưng tính vẫn tham ăn. Một hôm, anh ta ra đồng kiếm được mấy con cá đem về đốt lửa ngồi nướng.
Giữa lúc ấy, thằng con anh ta đói đang khóc quấy mẹ. Nhân thấy chồng nướng cá, mẹ nó dỗ:
- Uúi chà! Con cá vàng không? Nín đi rồi bố cho!
Thằng bé nín ngay, nhưng anh chồng lại gắt:
- Vàng gì? Có phải nghệ đâu mà vàng?
Thằng bé lại khóc, mẹ nó dỗ:
- Nín di, kìa trông nó béo quá kìa! Nín đi rồi bố cho!
Thằng bé lại nín. Anh ta cau mặt:
- Cá đấy, chứ có phải thịt đầu mà béo mấy chả béo!
Thằng bé giãy nãy lên khóc. Mẹ nó dỗ mãi không nín đành phải chỉ vào gắp cá, nói:
- Nín đi rồi bố xem con nào nhỏ, bố cho một con!
Nhưng anh chồng quát:
- Ba con bằng nhau, chả có con nào nhỏ cả!
THế Có ĐEN KHÔNG
Có một ông lão nghiện rượu chỉ thích uống thứ rượu nấu lậu. Một hôm, về chơi nhà ông thông gia ở quê định kiếm bữa rượu. Chẳng may đến chơi thì ông thông gia đi vắng. Bà vợ thết một bữa rất thịnh soạn nhưng sợ không dám đem rượu lậu ra mời. Ông lão nghiện rượu đêm nằm tấm tức mãi không ngủ được. bà kia ngủ ở buồng giáp vách, đêm dậy đi tiểu vào cái nồi. Nhà có khách sợ tương ra tồ tồ e bất lịch sự, bà cứ phải nín hơi, thóp bụng lại cho ra "ri, ri" mà thôi. Ông lão nằm nghe nước chảy vào nồi giọt một "tong, tong" tưởng trong nhà đang cất rượu, mới lẩm bẩm một mình:
- Ưừ, có thế chứ! Rượu đang cất, chắc ngày mai thế nào cũng được nếm!
Bà kia buồn cười quá không giữ được, tóe ra "tồ, tồ" một tràng. Ông lão tưởng hủ rượu vỡ, đập tay xuống giường rồi ca cẩm:
- Thôi xong! Hoài của! Hũ rượu vỡ mất rồi, thế có đen không!
TRứNG NGóT
Một chị mới về làm dâu. Hôm ấy, mẹ chồng bảo chị đi luộc rau muống. Chị ta đổ lưng rỗ rau vào nồi luộc, nhưng đến khi vớt ra chỉ còn được một đĩa. Chị ta lo mẹ chồng ngờ chị ăn vụng, ngồi ôm mặt khóc hu hu. Thấy chị ta khóc, mẹ chồng hỏi:
- Tại sao con khóc?
Chị ta liền kể lại sự tình. Mẹ chồng nói:
- Tưởng gì chứ thế thì việc gì mà khóc. Luộc bao giờ chả ngót đi như thế!
Một lần khác, mẹ chồng lại sai chị ta luộc năm quả trứng. Luộc chín, chị ta ăn hai quả. Mẹ chồng thấy còn có ba quả, liền hỏi:
- Sao luộc năm quả mà chỉ còn lại ba?
Chị ta trả lời gọn lỏn:
- Nó ngót đi đấy mẹ ạ!
CON Cò BIếT NóI
Xiển bắt được một con cò đem về nuôi. Thằng con lão nhà giàu trong làng trông thấy thích lắm, đòi bố mua cho được. Lão cũng chiều ý con, Xiển đòi năm quan. Lão mắng:
- Tao nghe nói mày thông minh, sao một con cò con thế này mày đòi những năm quan?
Xiển trả lời:
- Cò tôi quý lắm, nó biết nói!
Lão không tin, Xiển cam đoan rằng thật. lão bảo:
- Mày hỏi nó, nó nói được thì tao trả năm quan, bằng không thì tao bắt lấy cò!
Xiển lấy tiền rồi ghé sát vào tai cò, hỏi:
- Cò ơi! Mi có biết nói không?
Và bóp cổ cò một cái thực mạnh. Cò đau quá, kêu "có" một tiếng. Xiển reo lên:
- Đó thấy không?
Thế là lão nhà giàu chịu mất năm quan tiền lấy một con cò ốm.
Mẹ TRòN CON VUÔNG
Về già, Xiển làm thuốc và dạy học. Ông chữa thuốc giỏi, từ quan cho chí vua đều phải phục tài. Quan phủ Thọ Xuân có bà vợ và đứa con ốm thập tử nhất sinh, sai lính đến nhà lấy thuốc. Ông gói một hai gói bảo đem về. Quan hỏi anh lính gói nào của mẹ gói nào của cậu ấm. Anh lính bẩm không biết. Quan nhìn bên ngoài gói thuốc xem có đề chữ gì không thì chỉ thấy một gói vẽ một cái vòng tròn, một gói vẽ một cái hình vuông. Quan đoán mãi không ra, lập tức bắt đi mời kỳ được thầy lang Xiển đến.
Khi đến nhà quan phủ, Xiển cầm lấy hai gói thuốc, giả vờ nổi giận mắng anh lính: "Đồ ngủ như lợn, có thế mà cũng không biết, mẹ "tròn", con "vuông" chứ còn gì nữa!
Và QUAN HUYệN
Có một viên quan huyện hay nịnh hót quan trên để chóng được thăng quan tiến chức. Một trong những viên quan hắn thường bợ đỡ là án sát Nguyễn Văn Tiêu, tục gọi là Aán Tiêu. Để nịnh quan thầy, hắn ra lệnh cho dân hàng huyện không ai được nói tới tiếng "tiêu", ví dụ hạt tiêu phải nói là hạt ớt v.v... Hễ ai thấy người nào trái lệnh thì được phép vả vào miệng ba cái thật đau, rồi đem trình quan trị tội. Lệnh ban ra khiến Xiển ghét quan huyện lại càng ghét thêm. Ông mang một ít quần áo rách mướp xin vào hầu quan.
Quan hỏi có việc gì, Xiển thưa là nhà nghèo quá, gia tài chỉ còn ít quần áo rách, nhờ quan cầm hộ cho lấy tiền về làm vốn sinh nhai. Tức thì quan nổi trận lôi đình thét mắng đùng đùng, vì xưa nay có ai cả gan dám đem quần áo rách đến bán cho quan bao giờ? Đợi quan nguôi giận, Xiển mới nói:
- Dạ thưa ngài, xin ngài thương kẻ học trò nghèo túng này, không gì cũng mang danh người quân tử.
- Quân tử gì mày! Đồ quân tử cùng quân tử cố!
Xiển trần tình:
- Dạ, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm ạ!
Nghe câu nói khó hiểu, quan chau mày suy nghĩ một lúc mới biết lời mắng của mình và lời trần tình của Xiển đã làm thành một đôi câu đối hay tuyệt. Quan phục tài Xiển, thưởng cho một quan tiền nhưng lại chọn cái thú tiền chôn dưới đất lâu ngày bị hắn rỉ hết cả. Xiển đỡ lấy quan tiền cầm một đồng dằn mạnh xuống đất, tiếng kêu nghe cành cạch, rồi nói:
- Bẩm quan, tiền này không "ớt" được ạ!
Quan vô tình mắng:
- Mày điên à! Tiền này mà không tiêu được ư?
Chỉ chờ có thế, Xiển liền vả cho quan ba cái tát vào giữa mặt như trời giáng. Quan hô lính bắt trói, xiển ngăn lại nói:
- Chắc ngài vẫn chưa quên cái lệnh kiêng tiếng húy quan án ngài mới ban ra. Tôi làm như vậy cũng là thi hành cái lệnh của ngài thôi!
Quan sợ bọn lính bit chuyện thì minh thêm xấu hổ, liền đuổi Xiển về.
Tứ CHứNG NAN Y
Xiển làm thuốc giỏi, cho nên vua thường vời vào kinh chữa bệnh. Một hôm, vua nô đùa cùng bầy cung phi, thì thấy Xiển bước vào. Vua ngạc nhiên hỏi có việc gì. Xiển đáp:
- Hạ thần nghe nói hoàng thượng mắc phải bốn bệnh hiểm nghèo mà sách gọi là "tứ chứng nan y" nên vội vàng vào thăm hoàng thượng!
Vua khó chịu nói:
- Thiên hạ ác miệng mà nói càn như vậy, chứ lâu nay Trẫm vẫn thấy trong người khỏe mạnh, có việc gì đâu! Aà, thế "tứ chứng nan y" là những bệnh gì?
Xiển nói:
- Hạ thần nghe thiên hạ đồn như vậy. Bây giờ mới biết là sai, nhưng nghĩ cho kỹ, thì lại thấy có nguyên do đấy ạ!
Vua hỏi:
- Nguyên do thế nào?
Xiển giả bộ rụt rè:
- Xin hoàng thượng tha tội kẻ hạ thần mới dám nói!
Vua bằng lòng. Xiển nói:
- Thiên hạ thấy hoàng thượng suốt năm chỉ quanh quẩn trong cung điện nên họ lầm tưởng là ngài què. Nước sắp mất mà hoàng thượng vẫn ung dung vui thú, nên họ lầm tưởng ngài mù. Trước cảnh núi sông bị quân giặc dày xéo mà hoàng thượng cứ ngồi im, nên họ lầm tưởng ngài câm. Khắp nơi người ta đều kêu hoàng thượng là kẻ hèn yếu, khiếp nhược nhưng ngài vẫn làm ngơ ký hòa ước hàng giặc, nên họ lầm tưởng là ngài điếc!
Vua biết Xiển chửi mình, tức uất người, nhưng không đủ lý lẽ để bắt tội được.
ĐẦU TO BẰNG CÁI BỒ
Chuyện kể rằng lúc Quỳnh còn nhỏ, mới bảy tám tuổi, Quỳnh đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ nhưng cũng là một đứa trẻ chúa nghịch. Hồi ấy bọn trẻ thường chơi trò xước xách, lấy tàu chuối làm cờ, lá sen làm lọng. Trong trò chơi, Quỳnh bao giờ cũng lấn lướt.
Một đêm mùa thu, trăng tháng tám sáng vằng vặc, đang chơi với đám trẻ ở sân nhà, Quỳnh bảo:
- Chúng bay làm kiệu cho tao ngồi, rồi tao đưa đi xem một người mà cái đầu to bằng cái bồ!
Lũ trẻ tưởng thật, liền tranh nhau làm kiệu rước Quỳnh đi vòng vòng quanh sân, mệt thở muốn đứt hơi. Xong, chúng nhất định bắt Quỳnh phải giữ lời hứa. Lúc ấy trăng đã mờ, Quỳnh bảo:
- Tụi bây đứng đợi cả ở đây, tôi đi đốt lửa soi cho mà xem!
Bọn trẻ nhỏ hơi sợ, không dám ở lại, chỉ những đứa lớn hơn, bạo dạn đứng chờ. Quỳnh lấy lửa thắp đèn xong đâu đấy, rồi thò đầu che ngọn đèn, bảo:
- Kìa, trông trên vách kìa. Ông to đầu đã ra đấy!
Anh nào cũng nhìn nhớn nhơ nhớn nhác, thấy bóng đầu Quỳnh ở vách to bằng cái bồ thật. Lũ trẻ biết Quỳnh xỏ, quay ra bắt Quỳnh làm kiệu đền, Quỳnh chạy vào buồng đóng cửa lại, kêu ầm lên. Ông bố tưởng là trẻ đánh, cầm roi chạy ra, lũ trẻ chạy tán loạn.
ĐẤT NỨT CON BỘ HUNG
Từ thuở bé, ngoài tính nghịch ngợm, hiếu động, Quỳnh còn tỏ ra thông minh xuất chúng khi học rất giỏi và đối đáp hay, nhất là khi ứng khẩu.
Trong làng cậu bé Quỳnh có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Quỳnh đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Quỳnh đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì Quỳnh, ông ta ra vẻ kẻ cả gọi Quỳnh đến bảo:
- Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!
Nói xong, không đợi Quỳnh thưa lại, Tú Cát liền gật gù đọc:
- "Lợn cấn ăn cám tốn."
Đây là một câu đối rất hắc búa bởi "Cấn" và "Cám" vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó. Thế nhưng, không nao núng, Quỳnh đọc lại ngay:
- "Chó khônss chớ cắn càn."
Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. "Khôn" và "Càn" cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo:
- Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!
Nói xong Tú Cát đọc ngay:
- "Trời sinh ông Tú Cát!"
Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối. Nào ngờ, Quỳnh chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp:
- "Đất nứt con bọ hung!"
Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đành cút thẳng.
CHUYỆN DÊ ĐỰC CHỬA
Tiếng tăm về một thần đồng nhanh chóng được truyền tụng khắp nơi, ngày càng lan rộng và đến tận kinh đô. Nhà vua muốn biết hư thực ra sao, nhưng là người chuộng nhân tài, sau khi suy nghĩ, vua bèn ban lệnh: Cả phủ Thanh Hóa, mỗi làng phải đem nộp một con dê đực đang chửa. Sau hai tháng, nếu làng nào không có sẽ bị trị tội. Cái lệnh chéo ngoe ấy tất nhiên làm dân chúng phủ Thanh Hóa shốt hoảng sợ hãi. Cả làng Quỳnh ở, ai cũng nhớn nhác lo âu. Tìm đâu ra dê đực chửa? Mà từ xưa đến giờ đã nghe ai nói cái chuyện lạ lùng ấy đâu! Thế nhưng, khi biết chuyện đó, Quỳnh nói với bố:
- Chuyện gì chớ chuyện này xin bố đừng lo. Bố cứ bảo dân làng chuẩn bị cho con một trăm quan tiền và gạo ăn đường, con sẽ kiếm được dê đực chửa cho làng. Nghe Quỳnh nói vậy, ông bố không tin, nhưng cũng thưa lại vơi dân làng. Người tin kẻ nghi nhưng không còn có cách nào khác, mọi người đành làm theo yêu cầu của Quỳnh. Sáng hôm sau, hai cha con Quỳnh lên đường. Họ đến kinh đô khi nhà vua có việc đi qua cửa Đông. Quỳnh nép xuống cống sát vệ đường chờ. Khi xa giá nhà vua đến gần, Quỳnh khóc rống lên. Nghe tiếng khóc có vẻ lạ, vua sai lính lôi đứa trẻ đang khóc lên hỏi nguyên do. Quỳnh vờ như không biết đấy là vua, càng gào to, kể lể:
- Mẹ tôi đã chết mấy năm nay, tôi nói mãi mà bố tôi không chịu đẻ em bé cho tôi bế...
Vua nghe nói câu ấy, bật cười bảo rằng:
- Ôi chao quả là một thằng bé đần độn. Ba mày là đàn ông mà đẻ làm sao được?
Chỉ đợi cho vua nói vậy, Quỳnh liền nín ngay, rồi đứng chắp hai tay lại, nói thật trang nghiêm:
- Thưa ông, vậy mà nhà vua bắt dân làng tôi phải nộp dê đực chửa!
Nghe nói vậy, nhà vua giật mình, biết ngay đây là đứa bé thần đồng mà bấy lâu mình vẫn nghe đồn.
Miệng Kẻ Sang
Bấy giờ Quỳnh đã hơi lớn, đang độ thiếu niên. Trên đường từ phủ về khát quá, Quỳnh vào một quán nước bên đường. Trong quán có một viên quan, dáng oai vệ, đang ngồi nhai trầu bỏm bẻm. Cạnh đó, có một lính vệ đứng hầu. Quan nhai xong, hách dịch vứt miếng bã trầu ra đất.
Quỳnh đang ngồi uống nước, thấy ngứa mắt liền bước lại cuối nhặt lên, ngắm nghía như muốn tìm kiếm cái gì, rồi đút vào túi.
Quan thấy lạ, hỏi:
- Mày là ai? Làm gì vậy?
Quỳnh l&